Dịch COVID-19 chính là thử thách lớn nhất trong lịch sử ngành hàng không toàn cầu, dẫn đến nhiều thay đổi chưa có tiền lệ.

Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế (IATA) đã dự báo cuộc khủng hoảng dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 sẽ khiến ngành hàng không thế giới chịu mức thiệt hại kỷ lục 84 tỷ USD trong năm nay, và năm 2020 sẽ trở thành "năm tồi tệ nhất trong lịch sử hàng không".

IATA cũng cho biết, số hành khách đi lại bằng đường hàng không sẽ giảm 55% trong năm 2020 (so với năm 2019). Thậm chí, triển vọng quay trở lại các mức tăng trưởng như trước khi bùng phát đại dịch có thể phải sau năm 2024 nếu thế giới không sớm kiểm soát được dịch bệnh hay chưa có vaccine phòng ngừa. Một cuộc khảo sát của IATA còn tiết lộ, 40% du khách gần đây dự định sẽ đợi ít nhất 6 tháng sau khi đại dịch được đẩy lùi mới dám di chuyển bằng máy bay.

Dịch bệnh cùng những quy định cách ly khiến nhu cầu đi lại của hành khách giảm đồng nghĩa với việc các hãng hàng không phải ngừng khai thác hàng nghìn máy bay, hàng loạt hãng hàng không phá sản. Đầu tiên là Avianca là hãng hàng không lâu đời thứ nhì thế giới còn hoạt động đã phải đệ đơn phá sản vì đại dịch vào tháng 5 năm nay.

Tiếp đến là hãng hàng không LATAM cũng nộp đơn bảo hộ phá sản. Tại Chile và Peru, LATAM là hãng bay nội địa lớn nhất, lần lượt chiếm 57% và 63% thị phần, theo số liệu tháng 12/2019. Trong khi đó LATAM ở Brazil, Argentina, Colombia và Ecuador cũng đều là hãng lớn thứ hai trong nước.

Ngày 30/6, Aeromexico - một trong những hãng hàng không lớn nhất Mexico cũng đã thông báo nộp đơn xin bảo hộ phá sản tại Mỹ.

Tại châu Á, hãng hàng không Thai Airways đã chính thức nộp đơn xin phá sản tại Tòa án phá sản Trung ương Thái Lan ngày 26/5. Virgin Australia - hãng bay lớn thứ 2 tại Australia cũng xin phá sản vào tháng 4 sau khi không được đảm bảo khoản cứu trợ 904 triệu USD của chính phủ.

Bên cạnh đó cũng có không ít hãng hàng không đang ngấp nghé bờ vực bao gồm Flybe, SunExpress Deutschland, Miami Air, OpenSkies…Hàng không Việt cũng chao đảo vì COVID-19.

Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế cũng mới đưa ra dự báo đến năm 2024, hàng không thế giới mới có thể phục hồi như năm 2019, các hãng hàng không Việt Nam sẽ thiệt hại trên 4 tỷ USD trong năm nay. Cùng với đó là tình trạng thâm hụt dòng tiền trầm trọng với tất cả các hãng bay, các biện pháp cắt giảm nhân viên, tiết kiệm chi phí hoạt động đều được đưa ra để các hãng có thể hi vọng cầm cự qua dịch bệnh.

Nhìn lại quý II/2020, thời điểm thị trường phục hồi, Vietjet ghi nhận mức doanh thu dịch vụ vận tải hàng không đạt 1.970 tỉ đồng, giảm 54%, và mức lỗ hàng không 1.122 tỉ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm, Vietjet lỗ trong hoạt động hàng không 2.111 tỉ đồng.

Trong khi đó, hãng Vietnam Airlines có kết quả kinh doanh trong quý 2 doanh thu giảm 68% so với quý 1, còn 6.000 tỉ đồng. Lợi nhuận sau thuế giảm 4.030 tỉ đồng. Như vậy, lũy kế 6 tháng đầu năm, hãng này đã lỗ hơn 6.642 tỉ đồng. Thậm chí, khả năng hoạt động bình thường của hãng bay lớn nhất Việt Nam bị đơn vị kiểm toán đặt nghi vấn khi phụ thuộc nhiều vào việc giãn nợ từ các chủ nợ.

Tương tự, tân binh ngành hàng không Bamboo Airways cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự khi quý I lỗ tới 1.500 tỷ đồng, trong khi đó công ty mẹ là FLC cũng báo lỗ 2.725 tỉ đồng...

Khi các hãng hàng không trong nước vừa nhen nhóm hy vọng thì bỗng dưng dịch COVID-19 bùng phát, diễn biến phức tạp, khiến họ phải đối mặt “trận chiến” lần 2. Đà Nẵng - điểm du lịch thu hút hàng chục nghìn lượt khách mỗi ngày bỗng trở thành tâm dịch, cả nước bước vào cuộc chiến COVID-19 mới đồng nghĩa với cao điểm hè đã kết thúc sớm bất ngờ so với dự kiến.

Không những vậy, hàng chục nghìn vé máy bay nội địa tới Đà Nẵng và các điểm du lịch khác phải hoàn, hủy do diễn biến phức tạp của dịch bệnh. Các hãng hàng không nội địa một lần nữa “lao đao” vì đại dịch.

Trước đại dịch COVID-19, ngành hàng không là một trong những ngành có sự tăng trưởng chóng mặt của Việt Nam, trong 10 năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng ngành này tại Việt Nam lên tới 17,4% trong khi đó ở khu vực châu Á Thái Bình Dương bình quan chỉ là 7,9% (Theo số liệu báo cáo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt). Năm 2019 cũng đánh dấu là năm bùng nổ của cuộc đua hàng không khi hàng loạt hãng bay xin mở đường bay trong nước. Tuy nhiên COVID-19 đã thổi bay tất cả, ngành hàng không lâm vào khó khăn chưa từng có trong lịch sử.

Chính phủ đã thực hiện hàng loạt biện pháp hỗ trợ nhằm tháo gỡ khó khăn cho ngành hàng không, nhưng sau lần quay trở lại thứ 2 của COVID-19 vào Việt Nam dường như đã dồn ngành hàng không vào “chân tường”. Những đề xuất hỗ trợ vẫn chưa hết nóng và tốn không ít giấy mực của báo chí. Nhưng hàng không có đặc thù riêng và sự hỗ trợ cũng như vậy, chỉ vài doanh nghiệp nội địa nhưng để giải cứu thì số tiền cần thiết là không hề  nhỏ và cơ chế như thế nào thì vẫn là cuộc tranh luận chưa có hồi kết.

Những biện pháp đã được đưa ra như: giảm 50% phí thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay đến hết 2020; giảm giá nhiều dịch vụ hàng không cho tất cả các hãng đang sử dụng dịch vụ tại các cảng hàng không hay giảm 50% giá cất cánh, hạ cánh tàu bay và giá dịch vụ điều hành bay đi/đến đối với các chuyến bay nội địa từ tháng 3 cho đến hết tháng 9/2020 đã phần nào tháo gỡ được khó khăn cho ngành hàng không, những đó chỉ là những giải pháp tạm thời chứ không phải bài thuốc đặc trị cho tình hình hiện tại.

Nói một cách dễ hiểu là những biện pháp này sẽ giúp giảm bớt gánh nặng chi phí, tuy nhiên mọi sự sẽ trở nên vô nghĩa nên không có doanh thu bù đắp vào. Trong khi đó, việc hỗ trợ các gói vay 25.000 đến 27.000 tỷ đồng do Chính phủ hỗ trợ lãi suất vẫn còn nhiều vướng mắc trong cơ chế và chưa có sự thống nhất về phương án thực hiện từ các chuyên gia lẫn cơ quan chức năng.

Trong tình thế đó, việc cần làm của các doanh nghiệp hàng không là “tự cứu lấy mình”, không thể chỉ ngồi yên và trông chờ sự hỗ trợ tới từ Chính phủ. Thực tế cũng cho thấy, những hoạt động tích cực của doanh nghiệp đã đem lại hiệu quả đáng ghi nhận, ít nhất là có thể phần nào bù đắp chi phí hoạt động cho một bộ phận công ty.

Hãng hàng không đã nỗ lực thực hiện mọi giải pháp để hạn chế thiệt hại như cắt giảm tổng chi phí từ 50%-70% so với cùng kỳ năm trước; đàm phán với các đối tác giãn nợ, giảm lãi vay; bán bớt tàu bay, chuyển nhượng tài sản; giảm lương toàn bộ cán bộ, nhân viên; giảm giá vé...

Trong khoảng thời gian các đường bay quốc tế không thể khai thác thì việc tận dụng tối đa các đường bay nội địa là phương án khả dĩ nhất. Và doanh nghiệp hàng không hiểu rõ vấn đề này, các chương trình khuyến mãi trước nay chưa tưng có được triển khai, điển hình như: Thứ 5 rực rỡ - Giảm 50% tất cả các chặng nội địa của Vietnam Airlines; Săn vé máy bay giá rẻ Jetstar 1.800VNĐ; Trở lại bầu trời cùng Vietjet Air, đặt vé máy bay chỉ từ 1.600VNĐ áp dụng với một số chặng cụ thể, Chào thứ 4 bay Bamboo vô tư giá vé từ 49k…

Bên cạnh đó, hãng hàng không quốc gia cũng linh hoạt đưa ra gói sản phẩm hợp tác như VNV - combo nghỉ dưỡng kết hợp vé máy bay Vietnam Airlines và phòng khách sạn tại hệ thống Vinpearl trên khắp cả nước. Những dòng máy bay hiện đại nhất như Boeing 787 trước đây ưu tiên bay quốc tế thì giờ đây được đưa vào khai thác các chặng nội địa ăn khách cho mùa hè.

Ngoài ra, một giải pháp vượt khó không thể không kể tới chính là nghiên cứu phát triển gói thẻ đa dạng, giúp khách hàng mua một lần bay không giới hạn, linh hoạt thay đổi ngày khởi hành. Nổi bật phải kể đến như Power Pass của Vietjet Air, Fligh Pass của Vietnam Airlines,…

Trước ảnh hưởng nặng nề của COVID-19, các hãng hàng không phải liên tục theo dõi tình hình dịch bệnh, vì nếu muốn lên phương án mở cửa lại các đường bay quốc tế, việc quan trọng đặt lên hàng đầu là đảm bảo công tác chống dịch.

Các hãng hàng không luôn theo dõi chặt chẽ diễn biến dịch bệnh và bám sát thị trường để có phương án khai thác trở lại mạng bay quốc tế một cách phù hợp, đảm bảo ưu tiên cao nhất là phòng, chống dịch bệnh và đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển của hành khách. Đồng thời xây dựng kế hoạch khai thác để sẵn sàng lên lịch bay, mở bán vé và phục vụ hành khách ngay khi có sự đồng ý của các cơ quan chức năng.

Trong đợt dịch đầu tiên, mặc dù các hãng hàng không đã triển khai mọi giải pháp để hạn chế thiệt hại như cắt giảm tổng chi phí từ 50% đến 70% so cùng kỳ năm trước; đàm phán với các đối tác để giãn nợ, giảm lãi vay; chuyển nhượng tài sản, bán bớt tàu bay; giảm lương nhân viên, giảm giá vé,... nhưng do tác động quá lớn của đại dịch, các hãng đều rơi vào cảnh suy kiệt dòng tiền nghiêm trọng.

Trước tình hình trên, Bộ GTVT, Cục Hàng không Việt Nam đã nhiều lần đề xuất mở lại đường bay quốc tế trong bối cảnh dịch COVID-19 đang chứng kiến làn sóng bùng phát thứ 2. Vào thời điểm giữa tháng 8/2020, Hiệp hội Doanh nghiệp hàng không Việt Nam cũng kiến nghị cho mở lại các đường bay quốc tế với những nước kiểm soát được dịch COVID-19.
Bên cạnh đó, yêu cầu phải chung sống an toàn với dịch bệnh, mở cửa để đón chuyên gia, nhà đầu tư phục vụ phát triển kinh tế, việc triển khai phương án thực hiện xét nghiệm nhanh (tìm kháng nguyên) ngay tại các cửa khẩu, sân bay, bệnh viện, sự kiện tập trung đông người được xem là cần thiết.

Nhiều cuộc họp các bộ, ban ngành liên quan đã được tổ chức để thảo luận về vấn đề an toàn khi mở lại đường bay quốc tế với các nước đã kiểm soát được dịch bệnh. Ngày 15/9, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đồng ý phương án nối lại các chuyến bay thương mại quốc tế thường lệ có chở khách giữa Việt Nam và một số đối tác theo đề xuất của Bộ Giao thông vận tải.

Cụ thể, từ ngày 15/9 sẽ triển khai đối với các đường bay Việt Nam - Trung Quốc (Quảng Châu), Việt Nam - Nhật Bản (Tokyo), Việt Nam - Hàn Quốc (Seoul), Việt Nam - Đài Loan, Trung Quốc (Taipei).

Từ ngày 22/9 triển khai đối với các đường bay Việt Nam - Campuchia (Phnom Penh), Việt Nam - Lào (Vientiane).

Có thể thấy, mở lại đường bay quốc tế là “liều thuốc” hiệu quả nhất để tiếp sức cho ngành hàng không và du lịch, góp phần vực dậy nền kinh tế.

6 đường bay quốc tế được mở lại không chỉ là cơ hội, bước đệm mà còn là thử thách cho ngành hàng không khi đây cũng là những chuyến bay quyết định cho việc tiếp tục duy trì, mở thêm đường bay quốc tế hay không.

Việc duy trì và mở lại các đường bay quốc tế sẽ phụ thuộc rất lớn vào vào năng lực tiếp nhận của các cơ sở cách ly cũng như năng lực của ngành y tế trong nước.  Để làm được việc này không chỉ cần sự nỗ lực của ngành hàng không, Bộ GTVT mà còn cần có sự phối hợp chặt chẽ của Bộ Y tế và Bộ Ngoại giao.

Yêu cầu đặt ra khi 6 đường bay quốc tế đưa vào khai thác trở lại là vừa phải đảm bảo an toàn, hiệu quả, tạo sự yên tâm cho hành khách đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp sớm mở lại các đường bay với tần suất hợp lý.

Đầu tiên, phương án kiểm dịch phải đảm bảo khách nhập cảnh không mang mầm bệnh vào cộng đồng nhưng cũng không quá phức tạp, mất thời gian, khiến khách có tâm lý ngại bay. Đây không chỉ là vấn đề về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là vấn đề mang tính đối ngoại giữa Việt Nam và các nước.

Việc khai thác trở lại 6 đường bay quốc tế đặt ra yêu cầu rất lớn đối với công tác chuẩn bị các cơ sở dùng làm khu cách ly có thu phí tại các địa phương, đặc biệt phải đảm bảo yêu cầu số lượng tối thiểu vào mỗi thời điểm đáp ứng lượng khách nhập cảnh của 2 tuần liên tiếp theo các quy định về cách ly.

Nếu không đáp ứng được các yêu cầu trên, chỉ cần một sơ sẩy nhỏ dẫn đến “nhập dịch” hoặc “chuyển dịch” sang các nước khác sẽ kéo theo tác động rất lớn. Dịch bệnh diễn biến phức tạp ở các nước cũng khiến tâm lý người dân lo ngại, không muốn đi du lịch, khiến doanh thu và hiệu quả khai thác hàng không được dự báo thấp, khó đạt như kỳ vọng… Thậm chí, các hãng hàng không sẽ đứng trước nguy cơ đóng cửa trở lại các đường bay quốc tế như trước đây.

“Với các phương án đã tính toán rất kỹ, chúng ta nên tin tưởng sẽ kiểm soát được tình hình dịch, vì phòng chống dịch COVID-19 nhưng cũng phải đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế” - Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Quốc Cường nói.

Tuy nhiên, cũng giống như nền kinh tế chung đang bị ảnh hưởng của COVID-19, các đường bay mở lại cũng phụ thuộc rất nhiều vào công tác chống dịch của các nước quốc tế. Nếu dịch lại bùng phát hay diễn biến phức tạp ở nước ngoài thì việc duy trì đường bay là khá khó khăn.

Từ đó để thấy, những nỗ lực của Việt Nam là rất đáng ghi nhận, nhưng khó khăn chỉ thực sự qua đi khi thế giới có vaccine đặc chủng phòng chống COVID-19. Tuy nhiên, mọi dòng sông đều không ngừng chảy, các doanh nghiệp cũng không thể ngừng hoạt động, trước khi trông chờ vào sự hỗ trợ từ bên ngoài, hãy tự cứu lấy mình trước trong khả năng có thể.

Tin liên quan