Gần một thập kỷ đàm phán, Hiệp định thương mại tư do Liên minh châu Âu (EU) – Việt Nam (EVFTA) đã chính thức có hiệu lực vào ngày 1/8/2020. Hiệp định đã mở ra "con đường cao tốc" dẫn tới EU cho các doanh nghiệp Việt, một chặng đường mới với nhiều cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức đang chờ đợi.

EVFTA - Europe Vietnam Free Trade Agreement, trong đó, free hay "tự do" là yếu tố nền tảng nhất trong hiệp định này dù cho trong suốt gần một thập kỷ đàm phán hai bên hiếm khi nhắc đến. Khởi động từ tháng 10/2010, việc đàm phán EVFTA đã trải qua gần một thập kỷ với nhiều biến động về cả kinh tế, chính trị ở cả hai khu vực, nhưng hiệp định đã được ký kết ở thời điểm quan hệ song phương của Việt Nam – Eu đang tiến triển tốt đẹp.

EVFTA được đánh giá là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU. Cùng với Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đây được xem là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay.

Ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương hơn 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU.

Tiếp đó, sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.

Điều đó có nghĩa gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các hiệp định FTA đã được ký kết, đặc biệt khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta hiện nay.

EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và 28 nước châu Âu, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Hiệp định này quy định trải dài nhiều mặt về việc cam kết mở cửa thị trường trong thương mại hàng hóa, quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường); Đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế.

Điều này cho thấy EVFTA sẽ ảnh hưởng tới nhiều thành phần, công đoạn sản xuất trong nền kinh tế, tạo ra cơ hội tăng trưởng đồng đều các ngành khác nhau nếu tận dụng tốt được thời cơ để tham gia vào chuỗi cung ứng.

Về mặt tổng thể, theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nếu các cam kết về cắt giảm thuế quan và phi thuế quan được thực thi triệt để thì tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ được cải thiện trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

EVFTA dự kiến sẽ góp phần làm GDP tăng thêm ở mức bình quân từ 2,18 đến 3,25% (cho giai đoạn 5 năm đầu thực hiện), 4,57-5,30% (cho giai đoạn 5 năm tiếp theo) và 7,07-7,72% (cho giai đoạn 5 năm sau đó).

Về xuất khẩu, EVFTA dự kiến giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định. Điều quan trọng hơn là EVFTA sẽ góp phần giúp đa dạng hóa thị trường của nước ta để không bị phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường nào, từ đó giúp bảo đảm an ninh kinh tế của Việt Nam.

Đơn cử với cơ hội xuất khẩu thủy sản sang EU, thị trường tiêu thụ thủy sản khổng lồ với mức tiêu thụ trung bình đạt mức 22,03 kg/người, cao hơn 5,34 kg so với mức trung bình của thế giới. Trong đó, tôm là mặt hàng được giảm mạnh thuế suất cơ sở ở mức cao từ 6-22% về 0% sau từ 3 đến 7 năm.

Xuất khẩu gỗ cũng đứng trước cơ hội lớn khi Việt Nam là một trong năm quốc gia chế biến xuất khẩu gỗ lớn nhất thế giới nhưng chỉ dành 1% thị phần tại EU. Nhưng với EVFTA mọi thứ được kỳ vọng sẽ thay đổi khi các nhà nhập khẩu sẽ ưu tiên đồ gỗ Việt Nam do được ưu đãi thuế.

Dệt may, da giày hay xuất khẩu gạo cũng là những ngành thế mạnh của Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng xuất khẩu khi EVFTA có hiệu lực và thuế suất được cắt giảm trong lộ trình ngắn.

Không chỉ xuất nhập khẩu, EVFTA còn mang lại làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam, các doanh nghiệp châu Âu hiện đang rất quan tâm tới việc đầu tư vào Việt Nam. Kèm theo đó là những lợi ích từ việc tiếp cận các phương thức quản trị doanh nghiệp, bảo vệ người tiêu dùng hay cải thiện môi trường, biến đổi khí hậu,…

Trong bối cảnh "cơn bão COVID-19" càn quét nền kinh tế của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, các hoạt động giao thương có thời điểm bị tê liệt, ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều ngành hàng trong sản xuất, kinh doanh và thương mại hàng hóa. Nhiều chuyên gia kinh tế còn nhận định rằng tăng trưởng kinh tế năm nay sẽ khó đạt được mục tiêu đã đề ra.

Do ảnh hưởng của dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19, tình hình kinh tế, thương mại của Việt Nam trong thời gian qua đã bị sụt giảm đáng kể. Về thương mại, tính đến hết tháng 5/2020 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước giảm 2,8%, trong đó xuất khẩu giảm 0,9%, và nhập khẩu giảm 4,6%. Nếu tính riêng tháng 4/2020, xuất khẩu giảm 27,1% và nhập khẩu giảm 16,4% so với tháng trước đó, và lần lượt giảm 13,9% và 11,4% so với cùng kỳ năm 2019.

Vì vậy, việc Hiệp định EVFTA được đưa vào thực thi mang ý nghĩa quan trọng giúp bù đắp sự suy giảm của nền kinh tế trong giai đoạn dịch bệnh. Nếu nhìn từ góc độ doanh nghiệp, EVFTA còn được khẳng định là cứu cánh mang đến cơ hội thị trường đa dạng hơn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp lấy lại đà tăng trưởng hậu dịch bệnh.

Liên minh châu Âu luôn là thị trường mà bất cứ nền kinh tế nào mong muốn hợp tác, do đó sự cạnh tranh ở đây luôn ở mức rất cao. Thực tế cho thấy, nhiều năm nay doanh nghiệp Việt Nam vẫn loay hoay tìm cách tiến vào Eu trước sự cạnh tranh tới từ các nền công nghiệp mạnh trên thế giới, đặc biết là Trung Quốc.

Với cam kết thuế quan được hai bên nhất trí thông qua, Hiệp định EVFTA được đưa vào thực thi, doanh nghiệp Việt Nam đã có trong tay lợi thế rất lớn từ việc giảm/xóa bỏ hàng rào thuế quan vào thị trường EU để khai thác thị trường 18 nghìn tỷ USD này.

Tương tự về nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ được lợi từ nguồn hàng hóa, nguyên liệu nhập khẩu với chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý hơn từ EU, đặc biệt là nguồn máy móc, thiết bị, công nghệ/kỹ thuật cao từ các nước EU sẽ giúp nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng sản phẩm trong nước.

Không chỉ vậy, với EVFTA chuỗi giá trị mới của Việt Nam với một đối tác quan trọng trên thế giới sẽ được hình thành. Môi trường đầu tư mở hơn và thuận lợi hơn, khi triển vọng xuất khẩu hấp dẫn hơn sẽ thu hút đầu tư FDI từ EU vào Việt Nam nhiều hơn, đặc biệt là các lĩnh vực như dịch vụ, tài chính, ô tô, chế biến chế tạo, công nghệ thông tin, công nghệ cao, nông sản thực phẩm chế biến...

Hiệp định EVFTA có hiệu lực tạo điều kiện giúp hàng hóa của Việt Nam tiếp cận được một thị trường đầy tiềm năng với dân số hơn 500 triệu người. Nhiều ngành hàng chủ lực đứng trước cơ hội lớn có thể tiến sâu vào các nước thuộc Liên minh châu Âu với lợi thế lớn để cạnh tranh với các đối thủ tới từ nước khác.

Nông, lâm nghiệp, thủy sản, dệt may, da giày là những ngành được hưởng lợi lớn nhất từ hiệp định này khi hầu hết các dòng thuế suất sẽ được giảm từ trong vòng từ 3 đến 7 năm. So với mức hiện tại từu 8% đến 17% thì đây được xem là động lực to lớn cho các ngành này.

Tuy nhiên, như rất nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đã nhận định, con đường lớn nhưng không hề dễ đi cho các doanh nghiệp Việt. EVFTA mở ra cơ hội lớn về thị trường nhưng không phải là chìa khóa vạn năng cho hàng hóa Việt Nam tiến thẳng tới các nước châu Âu. Hay nói cách khác đó chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào việc nắm bắt cơ hội này của các doanh nghiệp.

Cần phải biết, EU đang là một trong những thị trường khó tính nhất thế giới với những yêu cầu về hàng rào kỹ thuật khắt khe. Đặc biệt là về kiểm dịch động, thực vật; quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm; chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU); khai báo nguồn gốc gỗ hợp pháp.

Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chưa chú trọng đến vấn đề này, phát triển theo tư duy nhỏ lẻ, không theo các tiêu chuẩn, quy phạm và đặt ra yêu cầu kỹ thuật cho đầu ra sản phẩm.

Đơn cử như với các loại nông sản, muốn vào được thị trường EU chắc chắn các loại rau củ quả phải được trồng theo tiêu chuẩn VietGap, không tồn dư lượng thuốc trừ sâu theo quy định và điều quan trọng là phải truy tìm được nguồn gốc xuất xứ.

Ngoài yêu cầu về chất lượng, sản phẩm phải được trồng đảm bảo việc thân thiện môi trường, không gây ô nhiễm, không sử dụng lao động nhỏ tuổi hoặc quá tuổi. Nhưng ở Việt Nam, việc đầu tư đồng bộ cho một quy trình sản xuất với loại trái cây như vậy thực sự chưa nhiều.

Hay với dệt may, da giày lâu nay vẫn được xem là những ngành hàng có nhiều lợi thế của Việt Nam cũng nằm trong hoàn cảnh tương tự khi đa số doanh nghiệp trong nước chủ yếu là gia công, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hạn chế về tài chính và đặc biệt là sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài.

Do đó có thể thấy, dù ưu đãi lớn đến thế nào nhưng không đảm bảo được yêu cầu về kỹ thuật thì mọi điều khoản cắt giảm thuế quan đều trở nên vô nghĩa. Đường cao tốc đã thông nhưng nó cũng chỉ dành cho những chiếc xe có động cơ đủ mạnh và nếu không tận dụng được cơ hội để bứt phá thì chắc người về đích trước tiên không phải là chúng ta.

90% doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) không biết EVFTA, đó là thông tin được Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh cho biết đầu tháng 07/2020. Dù cơ quan chức năng đã tổ chức tuyên truyền, giải đáp khá nhiều về hiệp định này nhưng mức độ nắm bắt và hiểu rõ luật chơi trong cộng đồng doanh nghiệp còn là rất thấp.

Bản thân các doanh nghiệp còn thờ ơ với EVFTA, chưa thực sự nắm bắt được cơ hội đến với mình nên không chủ động tìm hiểu, tiếp cận thông tin về hiệp định. Điều này gây ra sự lãng phí rất lớn khi đây được đánh giá là cơ hội không phải lúc nào cũng có được với doanh nghiệp Việt Nam.

Do đó, đối với bản thân các doanh nghiệp cần phải có tầm nhìn toàn diện hơn, chủ động hơn trong việc tiếp cận thông tin về các thị trường mới. Đồng thời, phải định vị thị trường của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập. Tiếp đó mới nghĩ đến công tác tái cấu trúc việc quản trị và công nghệ để đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ, hàng rào kỹ thuật, xác lập được một hệ thống phòng ngừa rủi ro.

Trong khi đó, con số 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa biết đến EVFTA cũng cho thấy cơ quan chức năng cần chú trọng hơn về vấn đề này. "Tại sao hoạt động truyền thông về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và các Hiệp định thương mại nói riêng chưa hiệu quả?", đây cũng là 1 trong 6 câu hỏi được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đặt ra tại hội nghị "Triển khai kế hoạch thực thi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)" được tổ chức ngày 06/08.

Nhiều ý kiến cho rằng, thời gian tới các Bộ ngành cần đi vào chiều sâu. Thay vì phổ biến, tuyên tuyền thì nên tổ chức tập huấn, đối thoại, toạ đàm với từng ngành hàng cụ thể. Có thể tận dụng khai thác thêm kênh mạng xã hội thay vì chỉ các kênh truyền thống như website của bộ, ngành.

Đây cũng là yêu cầu cấp thiết khi EVFTA đã chính thức có hiệu lực, phải làm sao để thật nhanh chóng các doanh nghiệp tiếp cận được chính sách và tận dụng hiệu quả cơ hội mà hiệp định mang lại.

Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa khi COVID-19 đang tàn phá nặng nề nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng không ngoại lệ khi các thị trường xuất khị bị gián đoạn thời gian qua. Việt EVFTA có hiệu lực đúng thời điểm này được xem như cú hích cho nỗ lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng mùa dịch của Việt Nam.

Tin liên quan